Cà phê một mình

Cà phê một mình

Nhớ Sài Gòn

Advertisements

Ông bố Mỹ nuôi 12 con thành đạt và không cho con tiền đóng học

Image

Những bí quyết dạy con chia sẻ dưới đây của một ông bố 12 con, tất cả đều độc lập, thành đạt, có vị trí trong xã hội có thể sẽ giúp ích cho bạn trong việc dạy con của mình.

Dưới đây là những chia sẻ của ông bố 12 con ở Mỹ Francis L. Thompson, kỹ sư tại tập đoàn Northrop Grumman của Mỹ:

Vợ chồng tôi có 12 đứa con sinh liền nhau trong vòng 15 năm rưỡi. Năm nay đứa lớn nhất đã 37 tuổi và đứa nhỏ nhất là 22 tuôi. Tôi cũng có một công việc có thu nhập cao và có thể chu cấp đủ tiền cho con các con ăn học, đóng tiền học phí. Nhưng tôi và vợ đã quyết định không làm điều đó.

Chúng tôi nuôi dạy các con ở Utah, Florida, and California. Nhưng giờ vợ chồng tôi sống ở Colorado. Tháng 3 tới chúng tôi sẽ kỉ niệm 40 năm ngày cưới. Tôi cho rằng tình yêu giữa chúng tôi là một phần của sự thành công ngày trong việc nuôi dạy con cái. Chúng đã được chứng kiến gia đình ổn định cùng với những cam kết không hề có sự thỏa hiệp.

Tôi sẽ chia sẻ với các bạn những điều mà chúng tôi đã làm nhưng trước tiên hãy để tôi nói một chút về kết quả vợ chồng tôi đã làm được: Tất cả 12 đứa con của tôi đã tốt nghiệp đại học (hoặc đang học trung học) và vợ chồng tôi không hề trả một đồng học phí nào cho tất cả bọn chúng. Những đứa đã kết hôn đều có vợ (chồng) tốt và đều tốt nghiệp đại học. Chúng tôi đang có tất cả 18 đứa cháu đều đang được giáo dục những điều như bố mẹ chúng đã được dạy ngày xưa đó là lòng tự trọng, lòng biết ơn, và mong muốn đóng góp được điều gì đó cho xã hội.

Tất nhiên còn rất nhiều điều chúng tôi đã làm sai. Nhưng tôi chỉ ghi ra đây những điều tôi nghĩ là tôi đã làm đúng trong việc nuôi dạy các con:

1. Công việc nhà
– Tất cả những đứa con của tôi đều bắt đầu làm công việc nhà từ lúc được 3 tuổi. Một đứa trẻ 3 tuổi có thể chùi cọ toa-lét chưa được sạch nhưng đến 4 tuổi thì đó là một công việc hoàn toàn phù hợp.
– Chúng sẽ nhận được tiền tiêu vặt dựa trên chất lượng công việc nhà chúng đã làm trong tuần.
– Tất cả những đứa con của tôi đều sẽ bắt đầu tự giặt quần áo của mình khi chúng được 8 tuổi. Chúng tôi sẽ giao nhiệm vụ giặt giũ cho con.
– Khi chúng bắt đầu biết đọc, chúng sẽ phải nấu bữa tối dựa trên việc đọc một công thức nấu ăn nào đó và áp dụng nó. Chúng cũng phải học cách để đọc và tăng dần những công thức nấu ăn mà mình biết được.
– Tất cả con trai và con gái đều phải học cách may vá

2. Việc học tập
– Việc học tập rất quan trọng trong gia đình của chúng tôi. Chúng tôi quy đình giờ học từ 6-8 giờ vào các buổi tối. Lúc đó lũ trẻ sẽ không được xem tivi, ngồi máy tính, chơi game hoặc làm các hoạt động khác cho đến khi 2 giờ học tập kết thúc. Nếu chúng không có bài tập về nhà thì chúng sẽ đọc sách. Với những đứa chưa đi học, chúng tôi chia nhau để đọc sách cho con. Sau 2 giờ, chúng có thể được làm bất kì điều gì chúng muốn miễn là không được vượt quá giờ giới nghiêm.
– Nếu lũ trẻ trở về nhà và nói rằng cô (thầy) giáo của chúng ghét chúng và không hề công bằng, phản ứng của chúng tôi là nói cho con biết chúng cần thích nghi. Bạn cần học học cách thích nghi bởi vì trong cuộc sống thực khi trưởng thành có thể bạn sẽ gặp ông ông chủ không mấy yêu quý bạn. Chúng tôi sẽ không đổ lỗi cho giáo viên trong việc không dạy dỗ các con, mà đặt trách nhiệm học tập lên những đứa trẻ. Tất nhiên, chúng tôi vẫn luôn ở hai các con 2 giờ mỗi học mỗi ngày để chúng có thể hỏi gì đó bất cứ khi nào cần.

3. Không được phép kén ăn
– Chúng tôi ăn tối và ăn sáng cùng nhau. Bữa sáng bắt đầu lúc 5h15 và sau đó tất cả các con sẽ làm việc nhà trước khi đi học. Bữa tối sẽ bắt đầu lúc 17h30
– Chúng tôi tạo niềm yêu thích thức ăn cho con. Nguyên tắc của chúng tôi là đưa cho trẻ những món ăn mà chúng ghét nhất trước (bắt đầu từ rau cho đến thức ăn mặn). Nếu chúng không thích ăn chúng có thể rời bàn ăn và nếu một lúc sau chúng kêu đói thì chúng tôi sẽ lấy thực phẩm lúc trước ra hâm lại trong lò vi sóng và đưa cho con. Nếu chúng tiếp tục không muốn ăn, chúng tôi cũng kiên trì không đưa thêm bất kì thức ăn nào cho đến khi chúng ăn món ăn chúng ghét.
– Chúng tôi không cho các con ăn nhẹ giữa các bữa. Chúng tôi luôn cung cấp đủ 4 nhóm thực phẩm (thịt, sữa, ngũ cốc, trái cây và rau) và gần như luôn luôn có món tráng miệng. Bây giờ, các con tôi không sợ thử các loại thực phẩm khác nhau, và không bị dị ứng với thực phẩm. Chúng luôn cố gắng tất cả các loại thức ăn mới và ăn cho đến lúc no. Không có một đứa nào trong số chúng bị quá cân. Chúng đều khỏe mạnh và chắc chắn.

4. Các hoạt động ngoại khóa
– Tất các các con tôi phải học một môn thể thao nào đó. Chúng sẽ chọn và bắt đầu chơi khi bắt đầu đi học. Chúng tôi sẽ không quan tâm đó là môn thể thao nào: bơi lội, bóng đa, bóng chày, tennis… chúng tôi cũng không quan tâm đến việc chúng sẽ chuyển khi chúng không thích, nhưng chúng cần biết chơi tối thiểu một môn thể thao.
– Tất cả các con tôi đều phải tham gia một câu lạc bộ nào đó như: Câu lạc bộ cho các chàng trai, câu lạc bộ cho các cô gái, câu lạc bộ lịch sử, truyện tranh..
– Tôi cũng yêu cầu các con tham gia các hoạt động tình nguyện ở địa phương, các hoạt động cộng đồng. Chúng tôi cũng thu gom quần áo cũ và gửi đến Mexico. Thông qua những việc làm đó những đứa trẻ hiểu được hoàn cảnh sống của nhiều gia đình và những việc chúng làm đã mang lại niềm hạnh phúc và thay đổi cho những gia đình đó như thế nào.

5. Tính độc lập
– Khi các con 16 tuôi chúng tôi đã mua cho mỗi đứa một chiếc xe ô tô chúng sẽ học cách sử dụng các công cụ sửa chữa và tự mình làm khi xe hỏng. Những đứa trẻ của chúng tôi không sợ thử làm những điều mới. Chúng được dạy nếu có làm gì sai thì chúng cũng không bị phạt. Điều này thường tốn của chúng tôi khá nhiều tiền nhưng chúng tôi đang dạy con và chúng tôi chấp nhận điều đó.
– Tất cả các con cũng được mua máy tính riêng nhưng tôi chỉ mua bộ vi xử lý, bộ nhớ, cung cấp điện, bàn phím, ổ cứng, chuột…Chúng sẽ phải tự mình lắp đặt, tải các phần mềm cần thiết khi chúng lên 12 tuổi.
– Chúng tôi cũng để cho các con có những lựa chọn riêng. Ví dụ: “con muốn đi ngủ hay dọn dẹp phòng”. Hiếm khi chúng tôi đưa ra những câu chỉ dẫn trừ khi chúng liên quan đến những quy tắc đã được thỏa thuận từ trước trong gia đình. Việc làm này sẽ giúp trẻ cảm thấy chúng có thể kiểm soát cuộc sống của mình.

6. Giúp đỡ lẫn nhau
– Chúng tôi cũng yêu cầu các con phải giúp đỡ lẫn nhau. Khi đứa học lớp 5 cần đọc sách cho nghe 30 phút mỗi ngày thì sẽ có anh chị em đọc cho chúng nghe. Những đứa lớn hơn sẽ hướng dẫn các em làm toán…
Chúng tôi cũng giao nhiệm vụ cho các con lớn dạy dỗ và giúp đỡ các em, khen ngợi những việc hàng tuần chúng làm được.
– Chúng tôi cũng để cho các con được đưa ra những quy tắc trong gia đình. Ví dụ: Những đứa trẻ muốn không được để đồ chơi ở trong phòng chung của gia đình. Đồ chơi phải để trong phòng ngủ hoặc phòng chơi. Thêm nữa đối với công việc nhà chúng phải tự lau dọn phòng ngủ của mình mỗi ngày. Đó là những quy tắc mà các con muốn và chúng tôi cho các con cơ hội mỗi tháng để sửa lại hoặc đưa ra các nguyên tắc mới. Bố và mẹ là những người có quyền phủ quyết nếu thấy không phù hợp.
– Chúng tôi cố gắng nhất quán . Tất cả đều học 2 giờ mỗi tối và không có ngoại lệ nào khác. Những ngày thường trong tuần giờ giới nghiêm là 22 giờ và với những ngày cuối tuần là 24 giờ.

7. Những nguyên tắc trong việc nghỉ ngơi
– Mỗi mùa hè cả gia đình chúng tôi sẽ cùng nhau đi nghỉ 2-3 tuần. chúng tôi cũng có đủ tiền để trả tiền thuê khách sạn, hoặc đi du lịch nhưng chúng tôi đã không làm như vậy. Chúng tôi đã đi cắm trại hoặc đi du lịch khắp nơi. Nếu trời mưa, chúng tôi sẽ tìm cách tự xoay sở. Chúng tôi có thể dựng 5-6 chiếc lều để nghỉ và tôi thường đưa những đứa trẻ từ 6 tuổi hoặc lớn hơn đi du lịch khoảng 3-5 ngày. Vợ tôi sẽ ở lại lều của đứa bé nhất.Suốt 15 năm qua, dù vợ tôi đang mang bầu hay có con nhỏ, vợ chồng tôi vẫn cho các con đi leo qua hẻm núi Grand Canyon, lên đỉnh Mount Whitney, vượt qua Continental Divide và Yosemite.
– Chúng tôi cũng sẽ gửi các con qua đường máy bay đến thăm họ hàng ở Châu Âu hoặc trong nước Mỹ 2- 3 tuần. chúng tôi bắt đầu làm những việc này khi chúng bắt đầu học mẫu giáo. Những hãng bay sẽ phải quan tâm đặc biệt hơn đến những đứa trẻ 5 tuổi đi một mình không có người kèm. Tuy nhiên những đứa trẻ sẽ học được từ rất sớm và hiểu được rằng chúng tôi – bố mẹ sẽ luôn ở bên chúng nhưng cũng để chúng tự lập, phát triển, tìm hiểu.

8. Về chuyện tiền bạc và vật chất
– Mặc dù chúng tôi có đầy đủ tiền bạc nhưng chúng tôi không giúp chúng mua nhà, hay trả tiền học phí, hay tiền tổ chức hôn lễ…Chúng tôi chỉ đưa ra rất nhiều thông tin về cách làm như thế nào, làm thế nào để có thể mua nhà và sử dụng vốn đã có để phát sinh thêm? Chúng tôi đã không đưa tiền cho các con mà chúng tôi đã dạy và đưa ra những thông tin để làm sao kiếm được tiền. Chúng tôi giúp các con liên hệ với các tập đoàn, nhưng chính các con phải tự mình thể hiện trong các cuộc phỏng vấn và tự kiếm việc làm.
– Chúng tôi cũng mua quà giáng sinh và quà sinh nhật cho các con. Chúng tôi cũng đã từng đóng vai ông già Noel để mang quà cho các con nhưng khi chúng lớn và hỏi về ông già Noel chúng tôi đã không nói dối bọn trẻ.Chúng tôi đã nói với con đó chỉ là trò chơi để mọi người cùng nhau vui vẻ. Chúng tôi đã làm danh sách những món quà mà mỗi đứa muốn sau đó để cho chúng xem và lựa chọn món quà chúng thích. Đối với những đứa con và cháu ở xa, thật không khó khăn gì để gửi danh sách đó qua mạng. Đôi khi những món quà tự tay làm cũng được chúng yêu thích.

9. Đối diện với thất bại
Dù chúng có làm gì thì chúng tôi vẫn yêu thương các con. Nhưng chúng tôi không hề ngăn cản hậu quả của bất kì hành động nào. Chúng tôi để cho chúng phải đối diện với hậu quả và không cố gắng để làm dịu những hậu quả đó bởi vì chúng tôi muốn nhìn thấy các con đối diện với nó. Chúng tôi có thể khóc và buồn nhưng không làm bất cứ điều gì để làm giảm đi hậu quả của những hành động chúng làm.

Vài nét về tác giả: Francis L. Thompson là một kỹ sư tại tập đoàn Northrop Grumman của Mỹ. Ông là đội trưởng thiết kế các vệ tinh truyền hình trực tiếp và vệ tinh phòng thủ tên lửa đầu tiên, cũng như kiểm soát mặt đất cho các hệ thống này.

Tường Vy
Theo qz.com
Yeutretho/Seatimes

Begin & End, Change

a bird in winter

“And that’s when I know it’s over. As soon as you start thinking about the beginning, it’s the end.”
-Junot Díaz-

“I guess it’s true what they say: if you wait long enough everything changes.”
– Junot Díaz –

“I think I spent enough time for your change. Don’t you think I have been waiting for it so long?!”

Quyền kế thừa của nhà nước và chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

 

(TNO) Vào ngày 19.1.1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) hy sinh trong nỗ lực bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.[1]

Đảo Hoàng Sa thuộc cụm Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam - Ảnh: Google Earth
Đảo Hoàng Sa thuộc cụm Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
– Ảnh: Google Earth 

Trong 40 năm qua, có nhiều nghiên cứu, bài phỏng vấn, bài viết về trận đánh ở Hoàng Sa nói riêng và về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam nói chung, nhìn từ các góc độ khác nhau.[2]

Mục đích của bài viết này nhằm xét đến quyền kế thừa lãnh thổ, trên đất liền và trên sông, biển, của nhà nước, theo luật pháp quốc tế, ứng dụng vào chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa và những tình huống khác nhau để có hành động thiết thực, bảo vệ hữu hiệu quyền lợi Tổ quốc.

Vào đầu thập niên 1990, thế giới chứng kiến sự thay đổi địa chính trị lớn lao ở châu Âu, ảnh hưởng đến ranh giới lãnh thổ của nhiều nước trong khu vực như Đức, Liên Xô, Nam Tư, Tiệp Khắc…

Cùng với tranh chấp lãnh thổ thường xuyên xảy ra, sự thay đổi địa chính trị này góp phần gia tăng hiểu biết về quyền kế thừa lãnh thổ, thông qua quyết định của Tòa án Quốc tế.

Quyền kế thừa lãnh thổ của nhà nước chia làm các trường hợp khác nhau:

1. Quyền kế thừa từng phần:

– Một phần lãnh thổ của nhà nước A trở thành lãnh thổ của nhà nước đang hiện hữu B như trường hợp tiểu bang Alaska của Mỹ.

– Một phần lãnh thổ của nhà nước A trở thành nhà nước mới B như trường hợp Liên Xô, Nam Tư, Tiệp Khắc.

2. Quyền kế thừa toàn bộ:

– Toàn bộ lãnh thổ của nhà nước A sáp nhập vào nhà nước đang hiện hữu B như trường hợp Đức.

– Toàn bộ lãnh thổ của nhà nước A sáp nhập vào nhà nước mới B như trường hợp Việt Nam, Yemen.

Nhà nước A hay B bao gồm một hay nhiều nhà nước riêng biệt.

Ghi nhận một số trường hợp về nhà nước kế thừa:

1. Trường hợp Cộng hòa Liên bang Nam Tư (Serbia-Montenegro) (gọi tắt là Nam Tư) – sự kiện Liên Hiệp Quốc, trong một thời gian, không thu nhận nước này làm thành viên, khiến quyết định của Tòa án Quốc tế không đi sát với nguyên tắc thông thường, theo đó Nam Tư là nhà nước kế thừa, được quốc tế công nhận.[3]

2. Trường hợp Cộng hòa Liên bang Đức – khi Cộng hòa Dân chủ Đức ngưng hiện hữu năm 1990 và sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức, Tòa án Quốc tế được xem là đã sử dụng nguyên tắc “kế thừa tự nhiên” đối với Đức trong lãnh vực nhân đạo hay khi ứng dụng Công ước Diệt chủng. Cả hai nhà nước là thành viên Liên Hiệp Quốc từ năm 1973.[4]

3. Trong giải quyết tranh chấp Hungary-Slovakia về đập Gabcicovo-Nagymaros, Tòa án Quốc tế sử dụng nguyên tắc kế thừa tự nhiên trên cơ sở Điều 12, Công ước Vienna năm 1978. Slovakia là nhà nước kế thừa, được quốc tế công nhận, của Tiệp Khắc, và bị ràng buộc bởi Hiệp ước năm 1977 giữa hai nước. Tiệp Khắc, Hungary và Slovakia là thành viên của Liên Hiệp Quốc lần lượt từ năm 1945, 1955 và 1993.[5]

Qua một nghiên cứu trước đây, người viết chứng minh hai sự kiện:

1. Trong giai đoạn 1954-1976, có hai nhà nước riêng biệt, cùng hiện hữu trên đất nước Việt Nam, ngăn cách bởi vĩ tuyến 17.

2. Cộng đồng thế giới nói chung, Trung Quốc, Liên Xô, và Mỹ nói riêng, công nhận thực tế này.[6]

Trước hành động dùng vũ lực của Trung Quốc ở Hoàng Sa đầu năm 1974, vi phạm nghiêm trọng Điều 2, Khoản 4, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, hai chính thể ở phía Nam vĩ tuyến 17, Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam lên tiếng phản đối trước quốc tế.

Khi đất nước thống nhất, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp tục hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, kế thừa từ Nhà nước VNCH.[7]

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc tháng 8 năm 1975. Mặc dù ở Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, có 123 nước ủng hộ, không có nước chống đơn gia nhập của Việt Nam, Mỹ dùng quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để ngăn chặn.

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức sáp nhập thành Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở khóa họp đầu tiên của Quốc hội giữa năm 1976.

CHXHCN Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc tháng 9 năm 1977.

CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố, khẳng định lãnh hải, bao gồm quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, lần lượt vào năm 1977 và 1982.[8]

Quyết định của Tòa án Quốc tế về quyền kế thừa của nhà nước và phương cách hành xử chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp, hình thành nhà nước mới, cho thấy Nhà nước CHXHCN Việt Nam tuân thủ luật pháp quốc tế trong việc thụ hưởng quyền thừa kế chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa từ các nhà nước, được quốc tế công nhận, trước đấy.

Hai quyết định sau của Tòa án Quốc về tranh chấp lãnh thổ cho thấy tình huống có thể xảy ra cho chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam.

1. Trong giải quyết tranh chấp Honduras-Nicaragua về bốn đảo nhỏ trong Biển Caribe, ngoài sự kiện không có nước thứ ba công nhận một cách liên tục và nhất quán chủ quyền các đảo này thuộc Honduras hay Nicaragua, Tòa án Quốc tế cho rằng sự liên tục lên tiếng khẳng định chủ quyền của Nicaragua là không đầy đủ so với phương cách hành xử chủ quyền của Honduras. Do đó, Tòa án Quốc tế trao chủ quyền bốn đảo nhỏ cho Honduras.[9]

2. Trong giải quyết tranh chấp Malaysia-Singapore về đảo Pedra Branca, Tòa án Quốc tế nhận định Malaysia, không phải Singapore, là nước có chủ quyền ban đầu, nhưng phương cách hành xử chủ quyền của Singapore ở thời điểm sau khiến Tòa án Quốc tế trao chủ quyền đảo Pedra Branca cho Singapore. Quyết định này phản ánh nguyên tắc “quieta non movere” hay “không làm xáo trộn sự ổn định” mà Tòa án Quốc tế vẫn sử dụng.[10]

Khi nói về quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, lãnh đạo Nhà nước, trong vài năm qua, có những tuyên bố sau:

“Năm 1956, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này.”(Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, 2011)[11]

hay:

“Không nên nói rằng các vị lãnh đạo Việt Nam chỉ bảo vệ chủ quyền bằng nói miệng. Nói vậy cực đoan quá… Chủ trương của ta là mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Có thể nước lớn phớt lờ luật pháp quốc tế vì họ mạnh. Nhưng chúng ta không bao giờ và không được từ bỏ công cụ là luật pháp quốc tế.”(Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, 2013)[12]

Các tuyên bố như trên phản ánh đúng đắn sự thật lịch sử, phản ánh quyết tâm của lãnh đạo trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi đất nước.

So với Trung Quốc hay so với một nước nào khác trong tranh chấp trên biển Đông, Việt Nam có chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa mạnh mẽ, rõ ràng, vững chắc.

Đây là thuận lợi có giá trị vô cùng to lớn mà tiền nhân đã để lại cho thế hệ ngày nay.

Tuy nhiên, các quyết định của Tòa án Quốc tế trong giải quyết tranh chấp cho thấy thuận lợi về chủ quyền lãnh thổ của một nước không ở lâu dài với nước đấy.

Bên cạnh ngụy tạo chứng cứ lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa để đánh lừa dư luận trong và ngoài nước, Trung Quốc nghiên cứu kỹ lưỡng quyết định của Tòa án Quốc tế, nhận thức rõ điểm yếu trong đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc và tích cực tìm cách khắc phục.[13]

Trung Quốc thừa hiểu kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa trong khi tiếp tục “hành xử” chủ quyền có yếu tố quyết định, hoàn toàn thuận lợi cho Trung Quốc ở Tòa án Quốc tế, như đã dẫn chứng trong tranh chấp giữa Honduras-Nicaragua hay giữa Malaysia-Singapore.[14]

Nói một cách khác, Việt Nam đang đối diện với thuận lợi về mặt lịch sử và pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa ngày càng giảm thiểu, thu nhỏ; cán cân thăng bằng trong thuận lợi sẽ chuyển hướng, hậu quả của một chiến lược kiên trì, tinh vi và xảo quyệt của Trung Quốc, nhằm chiếm giữ vĩnh viễn Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam.

Việt Nam vừa nhận chiếc tàu ngầm tối tân đầu tiên từ Nga. Trong khi hiện đại hóa quân đội là bước không thể thiếu để gia tăng phòng vệ, là nước yêu chuộng hòa bình, Việt Nam nên nghiêm túc sử dụng công cụ luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa trong thời gian tới.

Chọn lựa dứt khoát, mạnh dạn của Việt Nam, biến quyết tâm hiện có về Hoàng Sa-Trường Sa thành hành động cụ thể là nghĩa vụ, là trách nhiệm phải hoàn thành của mỗi và mọi người Việt Nam trước lịch sử, trước gương hy sinh của các thế hệ đã qua, trước sự mong đợi của các thế hệ sắp đến, trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Thái Văn Cầu
* Tác giả là chuyên gia khoa học không gian, hiện sống tại Mỹ

Chú thích:

1. Vào ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm một phần Trường Sa, khiến 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.

Xem thêm: “Gặp nhân chứng trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974”, Thạch Sơn-Thành Luân, 2011

http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1501&Chitiet=33184&Style=1

“Lời thề trước 64 liệt sĩ hi sinh tại Trường Sa”, Tiến Thành, 2012

http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/487545/loi-the-truoc-64-liet-si-hi-sinh-tai-truong-sa.html

“Ngày 14.3.1988, hai lăm năm nhìn lại”, Việt Long, 2013

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/ngay-14-3-1988-hai-lam-nam-nhin-lai.aspx

2. Tài liệu điển hình về trận đánh ở Hoàng Sa:

“Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa”, Vũ Hữu San & Trần Đỗ Cẩm, 2004

“Can trường trong chiến bại”, Hồ Văn Kỳ Thoại, 2007

“Trận Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974”, Hà Văn Ngạc & Hà Mạnh Chí, 2009

“Hải chiến Hoàng Sa 19-1-1974”, Ủy ban Nghiên cứu trận Hải chiến Hoàng Sa, 2010

“Phát hiện TQ chiếm Hoàng Sa, VNCH chuẩn bị chiến đấu đòi lại chủ quyền”, Trần Công Trục, 2013

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Phat-hien-TQ-chiem-Hoang-Sa-VNCH-chuan-bi-chien-dau-doi-lai-chu-quyen-post135947.gd

Tài liệu điển hình về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa:

“La souverainete sur les archipels Paracels et Spratleys”, Monique Chemillier-Gendreau, 1996

“Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Từ Đặng Minh Thu, 2007

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm

“Giải pháp cho vấn đề Biển Đông”, Tạ Văn Tài, 2010

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai20/201020_TaVanTai.htm

“Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claim”, Nguyễn Hồng Thao, 2012

http://southeastasiansea.files.wordpress.com/2013/08/vietnams-position-on-the-sovereignty-over-the-paracels-the-spratlys-its-maritime-claim.pdf

“Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông”, Trần Công Trục (chủ biên), 2011

“Lẽ phải: Luật Quốc tế và Chủ quyền trên hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Nguyễn Việt Long, 2012

“Hoàng Sa-Trường Sa: Luận cứ & Sự kiện”, Đinh Kim Phúc, 2012

3. “Application of the Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide (Bosnia and Herzegovina v. Serbia and Montenegro)”, Toà án Quốc tế, 1996

http://www.icj-cij.org/docket/files/91/13685.pdf

4. “Colonial Genocide and Reparations Claims in the 21st Century: The Socio-Legal Context of Claims under International Law by the Herero against Germany for Genocide in Namibia, 1904-1908”, Jeremy Sarkin, 2008, pp. 162-168

5. “Gabčíkovo-Nagymaros Project (Hungary/Slovakia)”, Toà án Quốc tế, 1997

http://www.icj-cij.org/docket/index.php?p1=3&p2=3&case=92

“Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties”, 1978

http://legal.un.org/ilc/texts/instruments/english/conventions/3_2_1978.pdf

“The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law”, Matthew C.R. Craven, 1998

http://www.ejil.org/pdfs/9/1/1471.pdf

6. “Hai Nhà nước Việt Nam và Chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa”, Thái Văn Cầu, 2013

http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/hai-nha-nuoc-viet-nam-va-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa

7. “La souveraineté du Viet Nam sur les archipels Hoang Sa et Truong Sa”, Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN, 1979, pp. 54-55

“The Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes: Vietnamese Territories”, Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN, 1981, pp. 17-18

“Hiến chương Liên Hiệp Quốc: Chương I – Chương IX”

http://www.luatquocte.com/hien-chuong/hien-chuong-lien-hiep-quoc/hien-chuong-lien-hiep-quoc-chuong-i-chuong-ix.nd5-dt.9.005025.html

8. “Giai đoạn 1976-1985: Đất nước thống nhất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN”

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=798&articleId=2892

“Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”, 1977

http://www.namdinh.gov.vn/Home/biengioibien/vanban/2011/2501/Tuyen-bo-cua-Chinh-phu-nuoc-Cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia.aspx

“Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam”, 1982

“The Socialist Republic of Vietnam and the Law of the Sea: An Analysis of Vietnamese Behavior within the Emerging International Oceans Regime”, Epsey Cooke Farrell, 1998, pp. 300-302

9. “Territorial and Maritime Dispute between Nicaragua and Honduras in the Caribbean Sea (Nicaragua v. Honduras)”, Toà án Quốc tế, 2007

http://www.icj-cij.org/docket/index.php?p1=3&p2=1&k=14&case=120&code=nh&p3=4

“The ICJ Awards Sovereignty over Four Caribbean Sea Islands to Honduras and Fixes a Single Maritime Boundary between Nicaragua and Honduras”, Pieter Bekker & Ana Stanic, 2007

http://www.asil.org/insights/volume/11/issue/26/icj-awards-sovereignty-over-four-caribbean-sea-islands-honduras-and

10. “Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore)”, Toà án Quốc tế, 2008

http://www.icj-cij.org/docket/index.php?p1=3&p2=3&k=2b&case=130&code=masi&p3=4

“Estoppel, Acquiescence and Recognition in Territorial and Boundary Dispute Settlement”, Nuno Sergio Marques Antunes, 2000

11. “Việt Nam đòi chủ quyền Hoàng Sa bằng hòa bình”, TT Nguyễn Tấn Dũng, 2011

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/viet-nam-doi-chu-quyen-hoang-sa-bang-hoa-binh-2212051.html

“Giải pháp đòi lại Hoàng Sa”, Nguyễn Thái Linh, Lê Minh Phiếu, Lê Vĩnh Trương

(Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), 2011

http://biendong.tuoitre.vn/goc-nhin-chuyen-gia/466951/Giai-phap-doi-lai-Hoang-Sa.html#

“VN khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa”, TT Nguyễn Tấn Dũng, 2013

http://tuoitre.vn/the-gioi/551486/thu-tuong-vn-vn-khang-dinh-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa.html

12. “Không có chuyện chỉ bảo vệ chủ quyền bằng miệng”, CTN Trương Tấn Sang, 2013

http://m.nguoiduatin.vn/khong-co-chuyen-chi-bao-ve-chu-quyen-bang-mieng-a78577.html

“Chúng ta không nhu nhược trong bảo vệ chủ quyền”, CTN Trương Tấn Sang, 2013

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chu-tich-nuoc-chung-ta-khong-nhu-nhuoc-trong-bao-ve-chu-quyen-2713623.html,

13. “Tổng lực nghiên cứu chủ quyền Biển Đông”, Hoàng Việt, 2011

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tong-luc-nghien-cuu-chu-quyen-bien-dong-tong-luc-nghien-cuu-chu-quyen-bien-dong-2195341/

Theo bài này, trong giai đoạn 1999-2010, Trung Quốc có 238 luận án tiến sĩ và 516 hội thảo về đề tài Biển Đông.

Đầu năm 2013, Phi Luật Tân khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII-UNCLOS.

Dù có quan toà của họ trong Tòa án Quốc tế và Toà án Luật Biển, Trung Quốc không muốn đưa tranh chấp Biển Đông ra quốc tế. Ngoài một số nguyên tắc đã nêu, Toà án Quốc tế, Toà án Luật Biển hay Toà Trọng tài có quyết định dựa trên chứng cứ mỗi bên đưa ra.

“Philippines đưa tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ra tòa án LHQ”, Vũ Quý, 2013

http://dantri.com.vn/diem-nong/philippines-dua-tranh-chap-bien-dao-voi-trung-quoc-ra-toa-an-lhq-688179.htm

“Philippines có đủ chứng cứ để kiện TQ”, Thái An, 2013

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/131881/philippines-co-du-chung-cu-de-kien-tq.html

http://www.icj-cij.org/presscom/files/7/16987.pdf

http://www.itlos.org/index.php?id=96&L=0

Tài liệu chứng cứ lịch sử ngụy tạo của Trung Quốc về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa:

“China’s indisputable sovereignty over the Xisha and Nansha Islands”, Bộ Ngoại giao nước CHNDTH, 1980

“Selected Works of Han Zhenhua”, Han Zhenhua, 1999

“Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Đông được đề cập trong tác phẩm Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hối Biên”, Hồ Bạch Thảo, 2010

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai20/201020_HoBachThao.htm

“Những ghi chép liên quan đến Biển Đông của Việt Nam trong Chính sử Trung Quốc”, Phạm Hoàng Quân, 2011

http://www.seasfoundation.org/research-documents/historical-and-legal-arguments/china-arguments/728-nhng-ghi-chep-lien-quan-n-bin-ong-vit-nam-trong-chinh-s-trung-quc

14.”Trung Quốc ngang nhiên tổ chức lễ thành lập “thành phố Tam Sa”, Sơn Duân, 2012

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120724/trung-quoc-ngang-nhien-to-chuc-le-thanh-lap-thanh-pho-tam-sa.aspx

”Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động phi pháp ở ‘TP.Tam Sa’”, Văn Khoa, 2014

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140104/trung-quoc-day-manh-hoat-dong-phi-phap-o-tp-tam-sa.aspx